Hội Việt Nam - Liên Bang Nga

Hội hữu nghị Việt Nam - Liên Bang Nga đã trải qua 2 kỳ Đại hội, với số hội viên 355 và có 6 chi hội trực thuộc.
 Ban Chấp hành khóa II, nhiệm kỳ 2017-2022; 
1. Ông Đỗ Chiêu Quý - Chủ tịch (GĐ Sở VH_TT_DL )
2. Ông Đỗ Thanh Sử - Phó Chủ tịch
3. Bà Trần Thị Thu Thủy  - Uỷ viên
4. Ông Bà Trần Nguyễn Ái Phương - Thư ký, Chi Hội trưởng Chi hội Sở TTTT
5. Ông Hoàng Chí Nguyện - Chi Hội trưởng Chi hội Báo HG
6. Ông Lê Công Bình - Ủy viên, Chi hội trưởng Chi hội CA tỉnh
7. Bà Lâm Thị Kim Chi - Chi hội trưởng Chi hội Đài PT-TH HG
8. Bà Trần Tuyết Hận - Chi hội trưởng Chi hội Sở VH_TT_DL
9. Bà Lê Thị Thanh Tuyền - Chi Hội trưởng Chi hội Trường CĐCĐ HG
-----
 1. Chi hội Sở Thông tin và Truyền thông
- Bà Trần Nguyễn Ái Phương: Chi hội Trưởng.
- Ông Lê Anh Kiệt: Chi hội Phó.
          Số lượng Hội viên: 40.
 2. Chi hội Báo Hậu Giang
 Ông Hoàng Chí Nguyện: Chi hội Trưởng.
           Số lượng Hội viên: 30. 
 3. Chi hội Đài Phát thanh và Truyền hình Hậu Giang
 Bà Lâm Thị Kim Chi: Chi hội Trưởng.
           Số lượng Hội viên:70. 
 4. Chi hội Công an tỉnh
 Ông Lê Công Bình: Chi hội Trưởng.
           Số lượng Hội viên: 20. 
 5. Chi hội Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang
- Bà Lê Thị Thanh Tuyền: Chi hội Trưởng.
           Số lượng Hội viên: 100.
 6. Chi hội Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Bà Trần Tuyết Hận: Chi hội Trưởng.
- Bà Dương Tú Linh: Chi hội Phó.
- Ông Trần Văn Đạt: Chi hội Phó.
           Số lượng Hội viên: 95.

--

            
VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA
THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ LIÊN BANG NGA
I. Thông tin chung
Tên nước: - Liên bang Nga (Russian Federation)
Thủ đô: - Mát-xcơ-va (Moscow)
Quốc khánh: - 12/6 (12/6/1990 - Ngày Tuyên bố chủ quyền)
Vị trí địa lý: - Nằm ở phía Bắc Lục địa Á-Âu; phía Đông tiếp giáp Bắc Thái Bình Dương; phía Tây tiếp giáp với Đông và Bắc Âu; phía Bắc tiếp giáp với Bắc Băng Dương; phía Nam tiếp giáp với các nước Cáp-ca-dơ, Trung Á và Đông Bắc Á
Diện tích: - 17.125.407 km(2016)
Khí hậu: - Cận Bắc Cực và Ôn đới; nhiệt độ trung bình năm: -1 độ C
Dân số: - 146.544.100 người (tháng 01/2016)
Dân tộc: - Trên 180 dân tộc, trong đó người Nga chiếm 77,7%, người Tác-ta - 3,7%, người U-crai-na - 1,35%... (theo Tổng điều tra dân số 2010)
GDP: - năm 2016 giảm 0,2% so với năm 2015, đạt 1.400 tỷ USD
GDP/đầu người: - 10.000 USD (theo Ngân hàng Thế giới)
Đơn vị tiền tệ: - Đồng Rúp (Rouble)
Tỷ giá: 61 Rúp = 1 USD (tháng 12/2016)
Tôn giáo: - Cơ đốc giáo Chính thống (75% dân số), Hồi giáo (5% dân số) và các tôn giáo khác như Phật giáo, Do thái giáo, Tin lành…
Ngôn ngữ: - Tiếng Nga
Mã điện thoại 007
Múi giờ GMT +3 đến GMT +10
Cơ cấu hành chính: Liên bang Nga chia làm 85 khu vực lãnh thổ - hành chính là chủ thể của Liên bang, gồm: 21 nước cộng hoà, 46 tỉnh, 01 tỉnh tự trị, 09 vùng, 4 khu tự trị, 03 thành phố trực thuộc TW là Mát-xcơ-va, Xanh Pê-téc-bua và Xê-va-xtô-pôn. Ngoài ra, nước Nga được chia thành 8 Đại khu Liên bang do các Đại diện toàn quyền của Tổng thống đứng đầu (ngày 28/07/2016, Tổng thống V. Pu-tin ký lệnh hợp nhất Đại khu Liên bang Cờ-rưm và Đại khu Liên bang phía Nam thành Đại khu Liên bang phía Nam).
Lãnh đạo chủ chốt: - Tổng thống: V.V. Pu-tin (nhậm chức tháng 5/2012, nhiệm kỳ 6 năm);
- Thủ tướng Chính phủ: Đ.A. Mét-vê-đép (bổ nhiệm tháng 5/2012);
- Chủ tịch Hội đồng Liên bang (Thượng viện): V.I. Mát-vi-en-cô (bầu tháng 10/2014);
- Chủ tịch Đu-ma Quốc gia (Hạ viện): V.V. Vô-lô-đin (bầu tháng 10/2016);
- Bộ trưởng Ngoại giao: X. La-vơ-rốp (được bổ nhiệm lại tháng 5/2012).
II. Khái quát lịch sử
Từ thế kỷ thứ IX – giữa thế kỷ XIII: Nhà nước Nga – Ki-ép cổ đại hình thành ở khu vực Tây-Bắc nước Nga, một phần Bê-la-rút và U-crai-na ngày nay.
Từ giữa thế kỷ XIII – cuối thế kỷ XV: Nga chịu ách thống trị Mông Cổ - Tác-ta; Công quốc Mát-xcơ-va tiến hành công cuộc thống nhất nước Nga.
Thế kỷ XVI: Nhà nước Nga phong kiến, tập quyền được hình thành; mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam và phía Đông…, trước khi rơi vào “Thời kỳ đen tối”.
Thế kỷ XVII: Năm 1612 triều đại Rô-ma-nốp ra đời, bắt đầu công cuộc chấn hưng nước Nga, sáp nhập Đông U-crai-na, Xi-bê-ri, Viễn Đông…
Thế kỷ XVIII: Sa Hoàng Pie Đại đế tiến hành cải cách theo mô hình Châu Âu, dời thủ đô về Xanh Pê-téc-bua năm 1712. Sau khi chiến thắng Thụy Điển trong Chiến tranh phương Bắc năm 1721, Nga trở thành cường quốc ở Châu Âu; trong thế kỷ XVIII đã sáp nhập các vùng Ban-tích, Cờ-rưm, Tây U-crai-na, Bê-la-rút…
Nửa đầu thế kỷ XIX: Sau khi chiến thắng Na-pô-lê-ông năm 1812-1814, vị thế của Nga được tăng cường; sáp nhập Ba-lan, Phần Lan…Tuy nhiên, sau đó dần tụt hậu và thất bại trong chiến tranh Cờ-rưm năm 1853-1856.
Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX: Sa hoàng A-lếch-xan-đơ II tiến hành cải cách, xoá bỏ chế độ nông nô; Nga sáp nhập Trung Á, Môn-đô-va…Kinh tế Nga phát triển nhanh chóng, tuy nhiên tình hình chính trị - xã hội dần bất ổn. 1905 - 1907: Cách mạng Nga lần thứ nhất nổ ra. 1914-1917 Nga tham gia Đại chiến thế giới I. Tháng 11/1917 Cách mạng tháng Mười Nga thành công.
Thời kỳ Liên Xô: Liên bang Xô Viết (Liên Xô) được thành lập năm 1922. 1941-1945: Đức tấn công Liên Xô tháng 6/1942, Hồng quân Liên Xô chiếm Béc-lin tháng 5/1945, giành thắng lợi trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, góp phần quyết định kết thúc Đại chiến thế giới II, cứu loài người khỏi thảm họa phát xít.
Cuối thập niên 1980 - đầu 1990: Liên Xô rơi vào khủng hoảng kinh tế - chính trị sâu sắc, xu thế ly khai phát triển; ngày 12/6/1990, Nga tuyên bố chủ quyền; ngày 8/12/1991, Liên Xô chính thức bị tuyên bố giải thể; Liên bang Nga được công nhận là quốc gia kế tục Liên Xô.
III. Thể chế nhà nước và chế độ chính trị
- Theo Hiến pháp năm 1993, Nga là Nhà nước Pháp quyền Dân chủ liên bang, gồm 83 chủ thể (nước cộng hòa, tỉnh, tỉnh tự trị…). Bộ máy nhà nước được tổ chức theo hình thức Cộng hòa Tổng thống, Tổng thống được trao nhiều quyền hạn. Sau khi sáp nhập Cờ-rưm và Xê-va-xtô-pôn vào tháng 3/2014, Nga có 85 chủ thể.
- Tổng thống Nga là người đứng đầu Nhà nước, được bầu trực tiếp, nhiệm kỳ 6 năm (áp dụng từ nhiệm kỳ Tổng thống năm 2012; trước đó nhiệm kỳ Tổng thống là 4 năm). Quyền hạn: là Tổng tư lệnh tối cao; lãnh đạo đối ngoại đất nước; bổ nhiệm Thủ tướng khi được Đu-ma Quốc gia chấp thuận; giới thiệu Hội đồng Liên bang bổ nhiệm các chức danh Chánh án các tòa án cấp cao, Chánh công tố; có quyền giải tán Chính phủ và Đu-ma Quốc gia; có quyền giới thiệu và cách chức người đứng đầu các chủ thể Liên bang…
Quốc hội là cơ quan dân biểu và lập pháp tối cao, được tổ chức theo hình thức lưỡng viện gồm Hội đồng Liên bang (Thượng viện) và Đu-ma Quốc gia (Hạ viện):
+ Hội đồng Liên bang gồm 167 đại biểu đại diện cho 85 chủ thể liên bang. Quyền hạn: phê duyệt thay đổi địa giới các chủ thể; phê duyệt sắc lệnh Tổng thống về ban bố tình trạng chiến tranh và khẩn cấp; bổ nhiệm Chánh án các tòa án cấp cao, Chánh công tố theo giới thiệu của Tổng thống; thông qua luật liên bang…
+ Đu-ma Quốc gia có 450 đại biểu, trong đó 225 đại biểu được bầu theo danh sách đảng (số ghế đại biểu được phân chia theo tỷ lệ phiếu bầu cho từng đảng) và 225 đại biểu được bầu theo danh sách khu vực (phân chia theo tỷ lệ cử tri từng khu vực), từ 2011 có nhiệm kỳ 5 năm (trước đó có nhiệm kỳ 4 năm). Quyền hạn: phê duyệt sắc lệnh của Tổng thống về bổ nhiệm Thủ tướng; bổ nhiệm và bãi nhiệm Chủ tịch Ngân hàng Trung ương; bổ nhiệm và bãi nhiệm Tổng kiểm toán; thông qua ngân sách liên bang; thông qua luật liên bang…
Chính phủ là cơ quan hành pháp liên bang tối cao, gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng và Bộ trưởng. Thủ tướng được Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Đu-ma Quốc gia. Quyền hạn: dự thảo và trình Đu-ma Quốc gia ngân sách liên bang và thực hiện ngân sách; thực hiện chính sách nhất quán về tài chính, tín dụng và  tiền tệ; quản lý tài sản liên bang…(Chính phủ hiện hành gồm có 8 Phó Thủ tướng và 23 Bộ trưởng).
Cơ quan tư pháp: bao gồm: Tòa án Hiến pháp (của liên bang và các chủ thể); các tòa án thẩm quyền chung (bao gồm cả tòa án quân sự), đứng đầu là Tòa án Tối cao liên bang; các tòa án trọng tài, đứng đầu là Tòa án Trọng tài Tối cao liên bang.
Các đảng chính trị lớn:
Đảng Nước Nga thống nhất (đảng chính quyền): Chủ tịch Đảng là Thủ tướng Mét-vê-đép, chiếm  343 ghế trong Đu-ma.
Đảng Cộng sản Liên bang Nga: Chủ tịch Đảng là G. Diu-ga-nốp, chiếm 42 ghế trong Đu-ma.
Đảng Nước Nga công bằng: Chủ tịch Đảng là X. Mi-rô-nốp, chiếm  23 ghế trong Đu-ma.
Đảng Dân chủ Tự do: Chủ tịch Đảng là V. Gi-ri-nốp-xki, chiếm 39 ghế trong Đu-ma.
IV. Tình hình chính trị - xã hội
Từ khi Tổng thống Nga V. Pu-tin lên cầm quyền (năm 2000), tình hình chính trị - xã hội Nga dần đi vào ổn định, kinh tế phục hồi và phát triển. Vai trò của Nhà nước và chính quyền Trung ương được tăng cường, xu thế ly khai bị đẩy lùi, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện.
Nga triển khai các biện pháp nhằm cải cách hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, chấn chỉnh quan hệ Trung ương - địa phương; trẻ hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ lãnh đạo địa phương; chống tham nhũng… Với chủ trương hiện đại hóa toàn diện đất nước, Nga tiếp tục tiến hành cải cách trên nhiều lĩnh vực như hành chính, an ninh và quốc phòng, đồng thời dành ưu tiên cho lĩnh vực an sinh xã hội thông qua việc triển khai các Dự án ưu tiên quốc gia về dân số, y tế, giáo dục và nhà ở…Tuy nhiên, Nga cũng phải đối mặt với một số nguy cơ bất ổn như tình trạng suy giảm dân số, chủ nghĩa khủng bố, tình hình bất ổn tại Bắc Cáp-ca-dơ, chủ nghĩa dân tộc cực đoan…
Năm 2012 đánh dấu sự quay trở lại vị trí lãnh đạo cao nhất đất nước của ông V. Pu-tin vào tháng 3/2012. Ông Mét-vê-đép đã được bổ nhiệm làm Thủ tướng và bầu làm Chủ tịch Đảng nước Nga thống nhất. Chính quyền Tổng thống V. Pu-tin đã một mặt triển khai các chính sách đảm bảo an sinh xã hội, tăng cường kiểm soát các tổ chức phi chính phủ nhằm củng cố ổn định xã hội và hạn chế sự can thiệp từ bên ngoài, mặt khác từng bước tiến hành dân chủ hoá đời sống chính trị tại Nga. Nga thông qua Học thuyết quân sự mới tháng 12/2014, Chiến lược an ninh quốc gia mới tháng 12/2015.
Sau sự kiện Nga sáp nhập Cờ-rưm và Xê-va-xtô-pôn vào tháng 3/2014 và khủng hoảng tiếp diễn tại miền Đông U-crai-na, tình hình chính trị nội bộ Nga cơ bản ổn định nhưng gặp nhiều khó khăn. Mỹ, EU và một số nước phương Tây khác đang áp đặt lệnh cấm vận và trừng phạt Nga, đã khai trừ Nga khỏi G-8, cô lập Nga tại các diễn đàn quốc tế, cấm nhập cảnh với nhiều quan chức và doanh nghiệp Nga khiến quan hệ Nga với phương Tây căng thẳng nhất kể từ sau Chiến tranh lạnh.
V. Giới thiệu về kinh tế
Trong giai đoạn 2000-2008, GDP của Nga tăng trung bình khoảng 7%/năm; do tác động của khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu, năm 2010 chỉ tăng 4%, năm 2011 - 4,2%, năm 2012 - 3,4%.
Trước ảnh hưởng của khủng hoảng toàn cầu và đà suy giảm từ cuối năm 2012, tốc độ tăng trưởng có chiều hướng chậm lại, GDP năm 2013 chỉ tăng 1,3 %. Năm 2014, việc Nga bị Mỹ, EU và các nước phương Tây cấm vận về kinh tế - tài chính cùng với giá dầu giảm kỷ lục đã ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế Nga, GDP năm 2014 tăng 0,6%, năm 2015 GDP giảm 3,7%, chỉ số giá tiêu dùng tăng 15,5%. Năm 2016, tốc độ suy giảm kinh tế đã chậm lại: GDP giảm 0,2%, sản xuất công nghiệp tăng 1,1%, sản xuất nông nghiệp tăng 4,8%, lạm phát 5,5%; 4 tháng đầu năm 2017 tuy giảm nhẹ 0,2% nhưng sản xuất công nghiệp tăng 0,7%, sản xuất nông nghiệp tăng 0,7%. Dự trữ vàng, ngoại tệ tính đến ngày 26/05/2017 đạt 406,1 tỷ USD.
Cơ cấu kinh tế Nga dựa nhiều vào khai thác và chế biến tài nguyên thiên nhiên, với các ngành kinh tế chính là: dầu khí, khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy, hóa chất… Nga là quốc gia sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới, đứng thứ 2 thế giới về sản xuất khí đốt, và giữ một trong những vị trí hàng đầu về sản xuất thép, kim loại màu, phân bón…
Nga có nhiều tập đoàn kinh tế lớn như Gazprom, Lukoil, Rosneft (dầu khí); Norilsk Nikel, Rusal, Severstal (luyện kim)…
Thương mại: Chính sách thương mại của Nga vẫn mang tính bảo hộ cao, đặc biệt đối với các mặt hàng nhạy cảm như ô-tô, sắt, thép và nông sản…
Năm 2012 2013 2014 2015 2016
Kim ngạch
(tỷ USD)
900 844 802 488 422,8
Năm 2012, kim ngạch ngoại thương đạt hơn 900 tỷ USD (xuất khẩu đạt 542,5 tỷ USD, nhập khẩu – 358,1 tỷ USD), Năm 2013 – 844,2 tỷ USD (xuất khẩu đạt 526,4 tỷ USD, nhập khẩu đạt 317,8 tỷ USD). Do bị ảnh hưởng của lệnh cấm vận và trừng phạt của Mỹ và phương Tây, từ năm2014, kim ngạch suy giảm chỉ đạt 802 tỷ USD (xuất khẩu đạt 494 tỷ USD, nhập khẩu đạt 308 tỷ USD), giảm 5% so với năm 2013, năm 2015 – 488,6 tỷ USD, (giảm 34,2%) trong đó xuất khẩu 311,9 tỷ USD (giảm 32,1%) và nhập khẩu 176,7 tỷ USD (giảm 7,7%); năm 2016 đạt 422,8 tỷ USD (giảm 13,4%), xuất khẩu 250,7 tỷ USD (giảm 19,8%), nhập khẩu 172,1 tỷ USD (giảm 1,9%); quý 1/2017 tăng 32,1% đạt 130,2 tỷ USD (năm 2016 giảm 13,4%), trong đó xuất khẩu tăng 36% đạt 82,2 tỷ USD (năm 2016 giảm 19,8%), nhập khẩu tăng 25,9% đạt 48 tỷ USD.
Các đối tác thương mại chính của Nga là EU, Trung Quốc… Các mặt hàng xuất khẩu chính của Nga gồm dầu mỏ và khí đốt, máy móc và thiết bị, sản phẩm kim loại, vũ khí, phân bón... Các mặt hàng nhập khẩu chính của Nga gồm máy móc và thiết bị, ô-tô, nông sản, hàng may mặc...
Nga tham gia nhóm các nước công nghiệp phát triển nhanh BRICS, là thành viên Liên minh Hải quan với Bê-la-rút và Ca-dắc-xtan (từ 01/1/2010) nâng cấp thành Liên minh Kinh tế Á – Âu (Nga, Bê-la-rút, Ca-dắc-xtan, Ác-mê-nia, Cư-rơ-gư-xtan) từ 01/01/2015, hoàn thành đàm phán và gia nhập WTO tháng 8/2012.
Chính sách ODA Viện trợ phát triển (ODA) duy trì ở mức 500 triệu USD/năm, trong đó hầu hết là thông qua các cơ chế đa phương và vào mục đích xóa đói, chống dịch bệnh…
Theo “Luận điểm về sự tham gia của Nga vào hỗ trợ phát triển quốc tế” thông qua tháng 11/2007, Nga đặt mục tiêu dành 0,7% GDP cho viện trợ phát triển, trong đó 70% cho mục đích song phương và 30% cho mục đích đa phương. Thứ tự khu vực được Nga ưu tiên viện trợ như sau: SNG, Châu Á – Thái Bình Dương, Châu Phi, Trung Đông và Bắc Phi, Mỹ La-tinh. Thứ tự lĩnh vực được Nga ưu tiên viện trợ: năng lượng (đặc biệt là điện năng), y tế, giáo dục…
Tuy nhiên, đến nay Nga chưa có các thể chế và quy định pháp lý để thực hiện Luận điểm này. Nga đang xem xét, thành lập Cơ quan viện trợ phát triển, tương tự như nhiều nước khác trên thế giới.
VI. Chính sách đối ngoại
Nga là một trong 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, là thành viên G20, BRICS và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác. Nga đã thông qua Học thuyết đối ngoại mới vào tháng 11/2016 (thay thế Học thuyết đối ngoại 2013) với nền tảng là chính sách đối ngoại độc lập và tự chủ, cởi mở trên cơ sở bảo vệ lợi ích quốc gia và tôn trọng luật pháp quốc tế; có thể dự báo trước, thực dụng, nhất quán, kế thừa; phát huy vai trò là nhân tố cân bằng trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế và quá trình phát triển nền văn minh thế giới.
Cuộc khủng hoảng chính trị U-crai-na và việc Nga sáp nhập Cờ-rưm và Xê-va-xtô-pôn năm 2014 đang tác động mạnh đến quan hệ đối ngoại của Nga. Quan hệ Nga với Mỹ và các nước phương Tây xấu nhất kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh tới nay, trong khi đó quan hệ với Trung Quốc được nâng lên tầm cao mới, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và hợp tác năng lượng, Nga tăng cường thúc đẩy hợp tác nội khối SNG, nhưng quan hệ Nga - U-crai-na khủng hoảng trầm trọng.
Tuy nhiên, Nga mở chiến dịch quân sự tại Xi-ri đã tạo ra những thay đổi về so sánh lực lượng trên thực địa và tác động đến chính sách của các nước trong khu vực. Việc tiến hành chiến dịch không kích IS tại Xi-ri và những kết quả đạt được có ý nghĩa quan trọng không chỉ xác lập lại vị trí không thể thay thế của Nga ở Trung Đông mà còn tạo bước khởi đầu quan trọng cho việc thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Mỹ và EU, đưa Nga thoát khỏi tình trạng bị cô lập do khủng hoảng U-crai-na.
Khu vực SNG là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Nga, với trọng tâm là tăng cường liên kết khu vực. Nga giữ vai trò hạt nhân trong các tổ chức khu vực như SNG, Tổ chức Hiệp ước an ninh tập thể (ODKB), Liên minh Kinh tế Á – Âu (gồm Nga, Bê-la-rút, Ca-dắc-xtan, Ác-mê-nia và Cư-rơ-gư-xtan); có quan hệ đối tác chiến lược với nhiều nước SNG. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng chính trị tại U-crai-na và việc sáp nhập Cờ-rưm và Xê-va-xtô-pôn vào Nga đã khiến quan hệ Nga – U-crai-na xấu nhất kể từ sau khi Liên Xô sụp đổ, U-crai-na coi Nga đã xâm chiếm lãnh thổ, thúc đẩy phong trào ly khai tại các tỉnh miền Đông.
Quan hệ Nga – Mỹ: trong nhiều năm gần đây là hợp tác (trong quan hệ song phương và một số vấn đề toàn cầu), cạnh tranh và kiềm chế lẫn nhau (về vai trò và vị thế trên trường quốc tế). Bên cạnh các mâu thuẫn từ trước như quyền con người (Luật Ma-gờ-nhít-xki của Mỹ và Luật I-a-cốp-lép của Nga), hệ thống phòng thủ tên lửa (NMD) tại Châu Âu (dù Mỹ đã tuyên bố dừng triển khai giai đoạn tiếp theo của NMD), triển vọng mở rộng NATO, tình hình Xi-ri…, quan hệ hai nước căng thẳng nhất kể từ sau chiến tranh lạnh đến nay liên quan đến khủng hoảng chính trị tại U-crai-na và việc sáp nhập Cờ-rưm và Xê-va-xtô-pôn vào Nga. Hai Bên áp dụng nhiều biện pháp trừng phạt lẫn nhau cả về chính trị lẫn kinh tế nhưng vẫn để ngỏ đối thoại chính trị, tránh đổ vỡ và đối đầu trực tiếp.
Quan hệ Nga – EU trong 10 năm trở lại đây phát triển tích cực, xu hướng hợp tác mang tính chủ đạo, hướng tới mục tiêu hình thành các “không gian chung” về kinh tế, an ninh, giáo dục, khoa học và văn hóa; đồng thời triển khai các sáng kiến mới như Chương trình Đối tác vì hiện đại hóa…; Nga đẩy mạnh quan hệ, tranh thủ các đối tác truyền thống như Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha…; đồng thời cải thiện quan hệ với một số nước như Ba Lan, Anh. Sau khủng hoảng chính trị tại U-crai-na và việc sáp nhập Cờ-rưm và Xê-va-xtô-pôn vào Nga quan hệ Nga – EU bị đóng băng và các biện pháp trừng phạt, đặc biệt về kinh tế đang tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Nga cũng như ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế EU.
Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại Nga. Nga tích cực tham gia vào các cơ chế hợp tác khu vực như APEC, Cấp cao Nga – ASEAN, EAS, ARF, ASEM, ADMM+…; tăng cường hợp tác song phương với các nước trong khu vực (đặc biệt Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam), khai thác thế mạnh về năng lượng, kỹ thuật quân sự.
Quan hệ Nga – Trung tiếp tục phát triển tích cực, nhất là trong bối cảnh Nga bị các nước phương Tây cô lập. Hai bên tiếp tục thúc đẩy hợp tác thực chất hơn trên các lĩnh vực năng lượng, kỹ thuật quân sự cũng như các lĩnh vực nhiều dư địa như đầu tư, tài chính, cơ sở hạ tầng. Quan hệ Nga - Nhật sau thời gian qua ấm dần lên khi hai bên tăng cường hợp tác kinh tế và nối lại đàm phán về Hiệp ước hòa bình đã chững lại từ đầu năm 2014 do Nhật Bản thực hiện chính sách cấm vận trừng phạt Nga do vấn đề U-crai-na. Quan hệ Nga - Ấn Độ được tăng cường, lập trường của Ấn Độ đối với khủng hoảng U-crai-na vừa qua tỏ rõ sự thực dụng, không để phương Tây hay Nga tác động đến chính sách đối ngoại, thúc đẩy quan hệ với các nước dựa trên lợi ích quốc gia. Hai bên tiếp tục tăng cường hợp tác chính trị, thúc đẩy hợp tác kinh tế, nhất là trong lĩnh vực năng lượng.
Lập trường của Nga về Biển Đông: Nga phản đối quốc tế hóa vấn đề Biển Đông,cho rằng các bên liên quan cần giải quyết tranh chấp trực tiếp với nhau, thông qua đàm phán hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trước hết là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS), Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC), tiến tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử của các bên tại Biển Đông (COC).
Quan hệ giữa Nga với Trung Đông, Mỹ La Tinh và Châu Phi tiếp tục được mở rộng trên nhiều lĩnh vực.
 
QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA
I. Quan hệ chính trị - ngoại giao
- Ngày 30/01/1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao.
- Ngày 16/6/1994, Việt Nam và Liên bang Nga ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị giữa Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga, đặt nền móng và cơ sở pháp lý cho quan hệ trong giai đoạn phát triển mới.
- Ngày 01/03/2001, Việt Nam và Nga ký Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác chiến lược.
Ngày 27/7/2012, Việt Nam và Nga ra Tuyên bố chung về tăng cường hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.
Quan hệ chính trị Việt – Nga có độ tin cậy cao và không ngừng được củng cố. Trao đổi đoàn cấp cao diễn ra thường xuyên, tạo động lực mạnh mẽ cho việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.
Lãnh đạo cấp cao Việt Nam thăm Nga (từ năm 2001):
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm chính thức Nga tháng 10/2002 và tháng 7/2010; Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Nga tháng 11/2014. Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm chính thức Nga tháng 5/2004; Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm chính thức Nga tháng 8/2008, dự Lễ kỷ niệm 65 năm chiến thắng phát xít tại Mát-xcơ-va tháng 5/2010; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm chính thức Liên bang Nga tháng 7/2012; dự Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại tại Nga tháng 5/2015; Chủ tịch nước Trần Đại Quang thăm chính thức Nga tháng 6/2017. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Nga tháng 9/2007, thăm làm việc tháng 12/2009, thăm chính thức tháng 5/2013, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm chính thức tháng 5/2016. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thăm chính thức Nga tháng 1/2003; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Nga tháng 4/2009, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thăm chính thức Nga vào tháng 3/2013.
Lãnh đạo cấp cao Nga thăm Việt Nam (từ năm 2001):
Tổng thống Nga V. Pu-tin thăm chính thức Việt Nam tháng 3/2001 và tháng 11/2006, thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam ngày 12/11/2013; Tổng thống Nga Đ. Mét-vê-đép thăm chính thức Việt Nam và dự Cấp cao ASEAN - Nga lần hai tháng 10/2010. Thủ tướng Nga M. Ca-xi-a-nốp thăm Việt Nam tháng 3/2002; Thủ tướng Nga M. Phờ-rát-cốp thăm chính thức Việt Nam tháng 2/2006; Thủ tướng Nga Đ. Mét-vê-đép thăm chính thức Việt Nam tháng 11/2012 và tháng 4/2015. Chủ tịch Hội đồng Liên bang X. Mi-rô-nốp thăm chính thức Việt Nam tháng 1/2005; Chủ tịch Hội đồng Liên bang V.I. Mát-vi-en-cô thăm chính thức Việt Nam tháng 11/2012, tháng 2/2017; Chủ tịch Đu-ma Quốc gia Nga Na-rư-sơ-kin thăm chính thức Việt Nam tháng 12/2014.
Năm Đoàn ra Đoàn vào
2001   Tổng thống Nga V. Pu-tin thăm chính thức Việt Nam
2002 Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm chính thức Nga Thủ tướng Nga M. Ca-xi-a-nốp thăm Việt Nam
2003 Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thăm chính thức Nga  
2004 Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm chính thức Nga  
2005   Chủ tịch Hội đồng Liên bang X. Mi-rô-nốp thăm chính thức Việt Nam
2006   Tổng thống Nga V. Pu-tin thăm chính thức Việt Nam
Thủ tướng Nga M. Phờ-rát-cốp thăm chính thức Việt Nam
2007 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Nga  
2008 Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm chính thức Nga  
2009 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm làm việc Nga
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Nga
 
2010 Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự Lễ kỷ niệm 65 năm Chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại Tổng thống Nga Đ. Mét-vê-đép thăm chính thức Việt Nam
2011    
2012 Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm chính thức Liên bang Nga
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thăm chính thức Nga
Thủ tướng Chính phủ Liên bang Nga Đ. Mét-vê-đép thăm chính thức Việt Nam
Chủ tịch Hội đồng Liên bang V.I. Mát-vi-en-cô thăm chính thức Việt Nam
2013 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Nga Tổng thống Nga V. Pu-tin thăm chính thức Việt Nam
2014 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Nga Chủ tịch Đu-ma Quốc gia Nga Na-rư-sơ-kin thăm chính thức Việt Nam
2015 Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dự Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại
 
Thủ tướng Chính phủ Liên bang Nga Đ. Mét-vê-đép thăm chính thức Việt Nam
2016 Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm chính thức và dự Hội nghị cấp cao ASEAN – Nga  
2017 Chủ tịch nước Trần Đại Quang thăm chính thức Nga Chủ tịch Hội đồng Liên bang V.I. Mát-vi-en-cô thăm chính thức Việt Nam
 
Từ năm 2008 Việt Nam và Nga thiết lập cơ chế Đối thoại chiến lược Ngoại giao - Quốc phòng - An ninh thường niên cấp Thứ trưởng thường trực Ngoại giao; năm 2013 thiết lập cơ chế Đối thoại chiến lược cấp Thứ trưởng Quốc phòng. Ngoài ra, hai Bên tiến hành tham vấn chính trị thường kỳ cấp Thứ trưởng Ngoại giao và cấp Cục, Vụ trong khuôn khổ hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao.
Hai Bên đồng quan điểm về nhiều vấn đề quốc tế và khu vực, phối hợp chặt chẽ và ủng hộ nhau trên các diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc, APEC, ASEM, ARF, CICA...; ủng hộ lẫn nhau ứng cử vào ECOSOC (Việt Nam nhiệm kỳ 2016-2018, Nga nhiệm kỳ 2017-2019), Ủy ban Luật pháp quốc tế nhiệm kỳ 2017-2021; đẩy mạnh hợp tác trong khuôn khổ ASEAN - Nga (Cấp cao ASEAN - Nga lần thứ hai đã diễn ra tại Hà Nội tháng 10/2010, Cấp cao ASEAN - Nga lần thứ ba diễn ra tại Sochi, Nga tháng 5/2016). Việt Nam đã hỗ trợ tích cực để Nga chính thức được kết nạp vào ASEM tháng 10/2010 và tham gia Cấp cao Đông Á từ năm 2011.
II. Hợp tác kinh tế - thương mại – đầu tư
Hợp tác kinh tế - thương mại Việt Nam - Liên bang Nga thời gian qua phát triển năng động, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng hai nước.
Hai nước duy trì cơ chế Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế - thương mại và khoa học - kỹ thuật, thành lập từ năm 1992 và được nâng cấp lên cấp Phó Thủ tướng từ năm 2011. Ủy ban liên Chính phủ họp thường niên. Tháng 09/2016 đã diễn ra Khóa họp lần thứ 19 tại Mát-xcơ-va. Hội đồng doanh nghiệp Việt – Nga được thành lập nhằm hỗ trợ xúc tiến thương mại, đầu tư cho công đồng doanh nghiệp hai nước. Việt Nam và Nga đã công nhận lẫn nhau có nền kinh tế thị trường năm 2007.
1. Thương mại
Năm 2015, kim ngạch thương mại song phương đạt 2,2 tỷ USD giảm 14% (theo số liệu thống kê của Nga là 4 tỷ USD), năm 2016 đạt 2,7 tỷ USD; 4 tháng đầu năm 2017 đạt 1,1 tỷ USD. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Nga gồm: điện thoại, may mặc, nông, thủy, hải sản các loại…; các mặt hàng nhập khẩu chính gồm: xăng dầu, sắt thép, phân bón, máy móc, thiết bị các loại…
Một số vướng mắc trong hợp tác thương mại như vấn đề kiểm soát chất lượng nông, thủy, hải sản xuất khẩu của Việt Nam, vấn đề thanh toán xuất nhập khẩu đã và đang dần được tháo gỡ. Việt Nam và các nước Liên minh Kinh tế Á – Âu đã ký chính thức Hiệp định Thương mại tự do vào ngày 29/5/2015. Hiệp định có hiệu lực từ ngày 05/10/2016.
 
Năm 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Kim ngạch
(tỷ USD)
0,87 1,01 1,64 1,82 1,82 1,98 2,12 2,71 2,55 2,2 2,7

Cơ sở điều ước pháp lý mới cho quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên bang Nga đã được tạo dựng khá đầy đủ và đang tiếp tục được hoàn thiện. Từ năm 1991 đến nay đã có trên 100 văn kiện hợp tác được ký kết thuộc tất cả lĩnh vực như kinh tế - thương mại, đầu tư, dầu khí, điện hạt nhân, giáo dục - đào tạo, văn hóa – khoa học, kỹ thuật quân sự./.
 kếtCác Hiệp định đã kýVI. 
Thời gian gần đây Nga chủ trương lập lại trật tự trong lĩnh vực lao động nước ngoài tại Nga, đưa ra một số quy định mới, ảnh hưởng nhất định đến việc sinh sống và làm ăn của cộng đồng ta tại đây. Cộng đồng ta đang tích cực học tập, cố gắng chuyển đổi hình thức kinh doanh nhằm tuân thủ đầy đủ những quy định mới cùa Nga.
Do yếu tố lịch sử, cộng đồng người Việt Nam (khoảng 60-80 nghìn người) đã tồn tại và làm ăn, sinh sống tại Nga gần hai thập kỷ. Số người Việt Nam định cư nhập quốc tịch Nga không nhiều, chỉ khoảng 1%. Cộng đồng người Việt Nam tại Nga có những đóng góp đáng kể cho đất nước, luôn đi đầu trong các hoạt động từ thiện. Tại Liên bang Nga đã thành lập các tổ chức của người Việt như Hội người Việt Nam tại Liên bang Nga, Hội doanh nghiệp, Hội sinh viên tại Mát-xcơ-va, Hội Văn học Nghệ thuật, Hội Khoa học Kỹ thuật, Hội Y Dược, Hội võ thuật, các Hội đồng hương…
 cộng đồng người Việt Nam tại NgaVềV. 
 tiếp tục được duy trì và tăng cường thông qua trao đổi đoàn và ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác. Nhiều địa phương hai nước đã thiết lập quan hệ hợp tác với nhau, đặc biệt giữa Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh và Mát-xcơ-va, Xanh Pê-téc-bua. Tháng 11/2013, Trung tâm Văn hóa – Thương mại Hà Nội được khai trương tại Mát-xcơ-va.5. Hợp tác địa phương
 tiếp tục được duy trì. Hai nước đã thực hiện gần 60 dự án nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Hợp tác nghiên cứu khoa học trong khuôn khổ Trung tâm Nhiệt đới tại Việt Nam mang lại nhiều kết quả tích cực.4. Hợp tác khoa học – công nghệ
được đẩy mạnh. Việt Nam và Nga duy trì Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kỹ thuật quân sự cấp Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Nga là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực này. Hai Bên đã tiến hành Đối thoại chiến lược Quốc phòng cấp Thứ trưởng Quốc phòng lần thứ nhất vào tháng 12/2013, lần thứ hai vào tháng 3/2016.3. Hợp tác an ninh - quốc phòng 
 Trước đây, Liên Xô đã giúp Việt Nam đào tạo gần 40 nghìn cán bộ và chuyên gia giỏi thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau. Hiện nay, Nga tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực, năm 2011 Nga cấp cho Việt Nam 345 suất học bổng đại học và sau đại học tại các trường của Nga, năm 2012 tăng lên 400 suất và 70 suất dành riêng đào tạo chuyên gia hạt nhân, năm 2014 đến 2017 lần lượt là 600, 795 và 855, 953 suất. Hiện có khoảng hơn 5.000 sinh viên Việt Nam du học tại Nga.2. Hợp tác giáo dục – đào tạo:
: Các hoạt động giao lưu văn hoá được tổ chức thường xuyên, góp phần tăng cường hiểu biết và hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Nga. Hai Bên tổ chức thường niên và luân phiên Những Ngày Văn hóa tại Việt Nam và Nga. Nga tiếp tục là một trong 10 thị trường tăng trưởng hàng đầu về du lịch ở Việt Nam. Năm 2012, Việt Nam đón 176 nghìn lượt khách du lịch Nga, năm 2013 đón 300 nghìn lượt, năm 2014 - 364 nghìn lượt, năm 2015 - 340 nghìn lượt, năm 2016 đón 430 nghìn lượt. Quý I/2017 đón 150 nghìn lượt khách.1. Hợp tác văn hóa, du lịch
 vực kháccác lĩnhIII. Hợp tác trong 
Ngày 22/11/2016, Quốc hội thông qua quyết định dừng thực hiện Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Thông cáo báo chí của Văn phòng Chính phủ cho biết: lý do dừng thực hiện Dự án không phải là vấn đề công nghệ mà là do điều kiện kinh tế của Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi so với thời điểm quyết định chủ trương đầu tư Dự án, nước ta đang cần nguồn vốn lớn để đầu tư phát triển các dự án cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại để tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cũng như nguồn vốn để giải quyết các vấn đề do biến đổi khí hậu gây ra.    
Hai nước đã đạt được thỏa thuận tiếp tục hợp tác trong việc xây mới và hiện đại hóa các công trình năng lượng tại Việt Nam. Ngày 31/10/2010 hai bên đã ký Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam và tháng 11/2011 hai Bên đã ký Hiệp định về việc Nga cấp tín dụng để triển khai dự án trên.
Năng lượng là lĩnh vực hợp tác truyền thống chiến lược và hiệu quả, đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách Việt Nam và Nga. Bên cạnh việc tiếp tục hợp tác trong khuôn khổ Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro đến năm 2030, hai nước đã thành lập các Liên doanh Rusvietpetro, Vietgazprom, Gazpromviet để mở rộng hợp tác dầu khí ở Việt Nam, Nga và các nước thứ ba.
3. Hợp tác năng lượng
 
Đầu tư của Việt Nam sang Nga trong vài năm trở lại đây tăng nhanh, từ chỗ chỉ khoảng hơn 100 triệu USD năm 2008, hiện Việt Nam có 18 dự án đầu tư tại Nga với tổng vốn đầu tư là 2,4 tỷ USD, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dầu khí, thương mại, nông nghiệp... Các dự án đầu tư lớn của Việt Nam sang Nga gồm Liên doanh dầu khí Rusvietpetro, Gazpromviet, trang trại của TH-True Milk và dự án Trung tâm thương mại Hà Nội tại Mát-xcơ-va.
Hiện Nga đứng thứ 23/116 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 118 dự án và tổng số vốn đăng ký 1,1 tỷ USD. Đầu tư của Nga tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực năng lượng, khai khoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo, ngân hàng...
2. Đầu tư
Tháng 7.2017
 

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây